Wednesday, May 26, 2010

NGUOI VIET Bình luận - Cái gì giúp loài người tiến bộ? - www.nguoi-viet.com


Ngô Nhân Dụng
Loài người rõ ràng tiến bộ hơn loài khỉ. So sánh với một chủng loại giống chúng ta nhất, là những “người neandertal” thì hiển nhiên là chúng ta đã qua mặt họ, vì giống người neanderthal này, dù còn đông đảo mặt trên trái đất trước đây 30,000 năm, nay đã hoàn toàn tuyệt chủng. (Tên giống “người người neandertal” là do năm 1856 lần đầu tiên được xác định khác với loài người chúng ta, căn cứ vào bộ xương sọ tìm thấy ở thung lũng Neander, nước Ðức).
Yếu tố nào giúp cho loài người tiến bộ hơn các sinh vật khác? Trước đây, người ta hay đi tìm câu trả lời trong bộ óc. Óc loài người to hơn, hoạt động phức tạp hơn, vân vân. Nhưng giống người neandertal có bộ óc còn to hơn tổ tiên chúng ta; cho nên lối giải thích như vậy không ổn. Có những giả thuyết khác coi tiếng nói, khả năng bắt chước, vân vân, là động lực tạo ra văn minh nhân loại.
Sau cùng, phải tìm câu trả lời ở bên ngoài bộ óc. Loài người là giống động vật “duy nhất” biết chế ra khí cụ để gia tăng khả năng của tay chân mình (gần đây người ta đã thí nghiệm, thấy nhiều giống vật cũng biết sử dụng khí cụ để kiếm thức ăn). Nhưng loài người đã chế ra dụng cụ từ 300,000 năm trước đây, và có thể từ hàng triệu năm; nhưng trong hơn nửa triệu năm trời các dụng cụ không thay đổi. Sự tiến bộ khiến loài người vượt lên trên hàng cầm thú mới bắt đầu từ 50 ngàn năm, khi các dụng cụ được cải thiện, càng ngày càng có những thứ “hữu dụng” hơn. Cho nên việc sáng chế ra dụng cụ không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa tới tiến bộ (Tuy vậy, ý tưởng thô sơ này đã đưa ông Karl Marx đến lý thuyết cho rằng “khí cụ sản xuất quyết định lịch sử nhân loại” mà nhiều người bây giờ vẫn còn tin theo, chưa tỉnh ngộ).
Khí cụ không phải là yếu tố quyết định, nhưng sự phát minh, sự cải thiện các khí cụ, giúp cho loài người tiến bộ! Con người phát minh như thế nào? Một cuốn sách xuất bản năm ngoái của Brian Arthur, tên là Bản chất của Kỹ thuật (The Nature of Technology) cho thấy những phát minh, sáng chế đem lại cho loài người các dụng cụ mới, từ cái bóng đèn, máy nổ, cho tới Internet, không phải là do các thiên tài đột nhiên nghĩ ra. Mọi sáng chế đều dựa trên các sáng chế có từ trước đó. Ông Arthur, người đặt nền tảng cho Lý thuyết Phức hợp (Complexity theory) và sáng lập Santa Fe Institute nhận xét. Thí dụ, cái máy tìm đường GPS khi quý vị lái xe, là tổng hợp của việc sáng chế máy vi tính, với kỹ thuật phóng vệ tinh viễn thông, cái đồng hồ điện tử, hệ thống phát luồng sóng và máy nhận sóng, vân vân. Người ta phát minh (innovation) và sáng chế (invention) vì đã có những phát minh và sáng chế trước đó. Số phát minh, sáng chế sẽ càng ngày càng nhiều vì chúng ta thừa hưởng một gia tài bao gồm các phát minh, sáng chế có sẵn ngày càng lớn hơn.
Tiến bộ, là một hiện tượng tập thể, do nhiều người đóng góp qua nhiều thế hệ. Nhưng không phải khi nào loài người tụ tập đông hơn thì số dụng cụ và kỹ thuật phải gia tăng, và tinh xảo hơn. Từ thế kỷ 17, nước Trung Hoa đã đông dân nhất thế giới; nền văn minh của họ cao bậc nhất, nhưng sau đó đã ngưng trệ suốt ba, bốn thế kỷ trong khi các nước Âu Châu đi những bước nhanh vọt lên phía trước.
Tới đây, chúng ta đoán được yếu tố nào đã tạo nên sự tiến bộ, tạo ra nền văn minh của nhân loại. Nhà động vật học Matt Ridley mới in một cuốn sách mới, “The Rational Optimist: How Prosperity Evolves” (Người Lạc quan Thuần lý: Sự Thịnh vượng Tiến hóa ra sao) giới thiệu yếu tố quan trọng nhất đưa tới sự tiến bộ của loài người, mà kết quả là đời sống kinh tế ngày càng phồn thịnh hơn. Theo Ridley chúng ta tiến bộ là nhờ trao đổi, thương mại.
Hiện tượng trao đổi dẫn tới sự phân công. Từ trăm ngàn năm trước, loài người ở Phi Châu đã bắt đầu chế độ phân công: đàn ông săn bắn, đàn bà hái lượm, sau đó chia sẻ ăn chung. Rồi các phẩm vật trao đổi ngày càng gia tăng. Nhờ thế, nhiều người chuyên làm một thứ để trao đổi lấy mọi món khác mình cần dùng. Phân công đẻ ra hiện tượng chuyên môn hóa. Nếu ai cũng đẽo đá làm rìu cho mình dùng, thì còn lâu mới sáng chế ra một khí cụ mới. Nếu một người chỉ lo làm rìu thôi thì hắn sẽ đủ thời tìm cách cải thiện cái rìu cho hữu hiệu hơn, đem đổi được nhiều khoai hay thịt để ăn hơn. Loài Neandertal có sáng chế các dụng cụ, nhưng cho tới nay chưa ai thấy di tích những dụng cụ của họ được đưa tới các vùng xa xôi. Chắc là họ không có trao đổi, do đó không tiến bộ được.
Ridley giả thiết nhờ trao đổi thương mại cho nên mới đưa tới sự phát triển nông nghiệp. Như ở tại các hòn đảo Hy Lạp trước đây 9,000 năm; nông dân mua khí cụ từ các nơi khác mang tới, và họ xuất cảng nông phẩm.
Nhưng khi loài người bắt đầu việc thương mại, người ta không phải chỉ trao đổi các sản phẩm, vật dụng. Ðối với sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại thì thứ quan trọng nhất được trao đổi với nhau là các Ý Tưởng. Các cuộc gặp gỡ đưa tới sự giao thoa giữa các ý kiến. Con người có dịp so sánh, chọn lựa và học hỏi các tư tưởng mới, lạ, các phát minh, sáng chế. Các ý tưởng gặp nhau sinh ra những ý tưởng mới, như sự tiến bộ về kỹ thuật đã đưa tới kinh tế phồn thịnh. Matt Ridley thấy trong nền văn minh nhân loại, thương mại có vai trò như giống như tính dục trong sinh học. Qua tính dục, các sinh vật trong mỗi loài pha giống, tạo ra sự tiến hóa tập thể và di truyền tới các thế hệ sau. Trong nền văn minh cũng có hiện tượng mà Ridley gọi là “các ý tưởng giao hợp với nhau” (ideas having sex). Loài người tiến bộ vì sử dụng được những “bộ não tập thể” (collective brains) được cấu thành.
Chúng ta học lịch sử Á Ðông thì biết cuối đời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc ở Trung Hoa nền thương mại phát triển, các thương gia làm giầu xuyên qua biên giới các “nước chư hầu;” đồng thời các trào lưu tư tưởng khác nhau cũng bộc phát với cả một phong trào những người đi “du thuyết.” Chế độ trung ương tập quyền của Tần Thủy Hoàng, rồi các triều đại sau của nước Tàu theo khuôn mẫu đó suốt hai ngàn năm, đã giết chết động lực tiến bộ xuất hiện trong thời Chiến Quốc. Người Trung Hoa kính trọng những người học chữ, tức là đề cao giới thư lại, ngồi bàn giấy; mà lại khinh miệt các thương gia. Xã hội trở thành khô cứng, giết chết dần dần óc phát minh, sáng kiến. Các ý tưởng không có dịp gặp nhau để phối hợp sinh ra các ý tưởng mới. Nước Trung Hoa bỏ lỡ cơ hội, chậm chân mất năm, bảy thế kỷ. Ðó là một bài học đáng suy nghĩ cho người Việt Nam bây giờ.
Hiện nay nền văn minh nhân loại hứa hẹn sẽ tiến bộ nhanh hơn và đa dạng hơn nữa, nhờ các phương tiện trao đổi tốt hơn. Ridley nêu thí dụ: Internet, các dịch vụ tìm tòi (search engine như của Google, của Baidu bành trướng bộ não tập thể, cho nhiều người có thể dùng được), các máy điện thoại di động. Nhờ thông tin tự do, các Ý Tưởng sẽ có cơ hội gặp gỡ và giao thoa với nhau hơn, sẽ sinh sản nhiều hơn, với tốc độ nhanh hơn. Loài người sẽ có cơ hội lựa chọn những sáng chế, phát minh mới. Thứ nào tốt nhất, thích hợp nhất để giải quyết các nhu cầu của nhân loại, sẽ được chọn, cho tới khi có những thứ khác ra đời thay thế. Những xã hội nào không tham dự vào “bộ não tập thể của loài người” sẽ bị tụt lại đằng sau.
Ðứng trước viễn tượng đó, chúng ta phải lo lắng cho tương lai nước mình. Chế độ độc đảng và chuyên chế đã và đang ngăn cản việc trao đổi tư tưởng và ý kiến. Sau khi “đổi mới” để trở về như đời xưa, chịu “mở cửa” cho hàng hóa và dịch vụ được trao đổi tự do hơn, đảng Cộng Sản vẫn khép chặt không cho người dân được tự do thông tin, trao đổi ý kiến, tư tưởng. Báo chí, đài phát thanh, đều bị kiểm soát chặt chẽ. Các hoạt động trên mạng lưới bị ngăn cản, Mạng Bô Xít, XCafe, vân vân, bị phá nhiều lần. Một viên tướng công an còn khoe đã phá được hàng trăm mạng, coi đó là một thành tích vẻ vang để “dâng lên Ðảng.”
Ðảng Cộng Sản đang ngăn cản không cho người Việt Nam được bước chân vào sống trong “bộ não tập thể của nhân loại.” Trong khi đó, các nước Á Ðông khác, từ Hàn Quốc đến Singapore đang đẩy con em của họ hòa mình vào “bộ não tập thể” của thế kỷ 21. Cứ tiếp tục như thế, dân Việt sẽ lại lụp ngụp đi sau chân các nước láng giềng không biết bao giờ mới đuổi theo kịp. Chắc chắn là dân tộc Việt Nam không chấp nhận như vậy.

=====================

Khi Bài Hát Trở Về- Trần Trung Đạo

 

Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.

Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy Mà Đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ Quốc Ơi Ta Đã Nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người. Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.

Lời nhạc của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi” đã làm cho Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.

Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng Đạo, Du Ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.

Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tị nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng Đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Tiếng Rống Đàn Bò, Lìa Nhau, Thảm Kịch Khó Nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh.

Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”

Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi nào đặt hàng hay một ông tổng ủy trưởng Dân Vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.

Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngã, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngã của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.

Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.

Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.

Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt.

Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.

Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình. Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo Dục Và Thanh Niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm.

Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của mùa hè đỏ lửa chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.

Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác?

Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.

Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay Hải Quân Trung Quốc xâm lăng.

Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông Hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.

Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo “Xung Đột Trường Sa: Ai Có Mặt Trước?” (The Spratly Islands Dispute: Who's on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.

Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.

Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Dậy Mà Đi”, “Nối Vòng Tay Lớn” của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những "bất hạnh”, "nỗi đau", "tính tự ti mặc cảm", vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng. Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.
Trần Trung Đạo

No comments:

Post a Comment