Sunday, May 15, 2011

Sau 42 năm, nhìn lại vụ Tết Mậu Thân

Toi ac Cs - Hue1968
Xương và sọ của một phần trong số dân lành bị Việt cộng sát hại trong cuộc tấn công Huế ngày Tết năm Mậu Thân 1968

NHỮNG CAN PHẠM TỘI ÁC CHIẾN TRANH CÓ THỂ BỊ TRUY TỐ

Sau gần nửa thế kỷ, vụ Việt Cộng đột kích vào các thành phố miền Nam Việt Nam vào dịp Tết Mậu Thân (1968) vẫn còn được viết, được nói tới để sự thật tiếp tục được phơi bày về một biến cố quân sự lớn trong cuộc Chiến tranh Việt Nam (1960-1975).
Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân không chỉ liên quan đến chiến thuật, chiến luợc về mặt quân sự, nó còn là một khúc quanh trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, và liên quan đến truyền thông báo chí, và đến những tội ác chiến tranh đã xảy ra. 
Vào cuối năm 2010, có thêm một cuốn sách nữa của người Mỹ viết về cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968): This Time We Win: Revisiting the Tet Offensive của James S. Robbins, một cây bút bình luận chính trị của nhật báo Washington Times.
Tác giả đã dùng những tài liệu của phiá Việt Cộng để chứng minh rằng, trái ngược với “mô tả” trên báo chí Mỹ lúc ấy, cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân đã làm suy yếu lực lượng VC tới gần điểm sụp đổ và gây tổn thất nặng nề hạ tầng cơ sở của đối phương tại miền Nam. Còn phiá bộ đội cộng sản Bắc Việt thì bị mất tinh thần, phần vì xa nhà, phần vì đường tiếp tế quá dài, quân số hao mòn nhanh hơn là sự bổ sung có thể cung cấp do “đường mòn HCM” từ Bắc vào Nam.
Cuộc tổng công kích không nhằm mục đích chiếm giữ lâu dài các tỉnh và thành phố miền Nam nhưng được hoạch định để tạm kiểm soát các cứ điểm quan trọng và lãnh đạo quần chúng nổi dậy cướp chính quyền. Nhưng, cả hai mục tiêu này đều đã không đạt được vì Việt cộng đã bị đẩy lui hầu như ở tất cả mọi nơi và quần chúng cũng đã không nổi dậy mà còn bỏ chạy về phiá quốc gia.
Tác giả Robbins đã kể ra từng trường hợp một để chứng minh rằng vụ Tết Mậu Thân không phải là “một cuộc tấn công bất ngờ” như báo chí Mỹ tường trình. Không có chuyện tình báo thất bại vì kế hoạch tấn công của VC đã rơi vào tay Nam VN và Mỹ trước khá lâu. Nhờ tin tức do cán binh Bắc Việt cao cấp hồi chánh và VC trở cờ cung cấp, phiá Nam VN đã được báo động và đề phòng. Theo tài liệu hậu chiến, trong tổng số khoảng 84,000 cán binh VC tham gia cuộc tấn công Tết Mậu Thân, hơn một nửa (45,000) đã bỏ mạng.
Trương Như Tảng đã nhận định trong hồi ký của ông ta rằng vụ Tết Mậu Thân là một tổn thất làm điên đảo hàng ngũ VC, và là một sự trớ trêu lớn khi một cuộc thất trận như vậy “đã được truyên truyền của chúng ta biến thành một chiến thắng huy hoàng”.
Robbins cho rằng khi ấy thay vì thừa thắng xông lên để đè bẹp VC thì TT Johnson, với quan niệm chiến lược “chiến tranh giới hạn” và “tiệm tiến” đã cho đối phương có thời gian để phục hồi. Cho tới mấy năm sau, vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến với sư sa lầy của Mỹ, Tổng thống Nixon mới ra lệnh oanh tạc toàn miền Bắc VN nhằm mục đích đem tù binh Mỹ về nước.
Theo Robbins, sau trận Tết Mậu Thân, ít người biết những phần tử chủ hoà ở Hà-Nội đã muốn bỏ cuộc, và việc điều đình đã được công khai thảo luận, nhưng phe diều hâu với Võ Nguyên Giáp cầm đầu đã thắng và đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam.
Về phiá Mỹ, Robbins kết luận rằng sự thiếu quyết tâm là nhược điểm của anh khổng lồ (Achilles’ heel), đã đưa đến sự thất bại của một cuộc chiến tranh mà quân đội Mỹ và Nam VN đã thắng, và thắng liên tiếp trên chiến trường. Tác giả cũng đã nhấn mạnh đến vai trò của “phong trào phản chiến” tại mặt trận hậu phương nước Mỹ và sự phản bội của giới báo chí Tây phương trong cuộc chiến.
Khi ấy, dẫn đầu bởi Walter Cronkite, truyền thông dòng chính của Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã “định nghiã chiến trường theo chiều hướng có lợi cho quân thù, bất kể sự thực.” Và tác giả đã kết luận bằng cách trích dẫn lời của một người lính Mỹ: “Việt Cộng đã không hạ được chúng tôi, nhưng New York Times và CBS-TV có thể làm việc ấy.”
Tạp chí VIETNAM số tháng 2/2011 cũng có ba bài về cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân. Hai bài của Don North và Wilburn Meador viết về cuộc tấn công và giải cứu toà đại sứ Mỹ tại Sài-Gòn.
Bài về những gì xảy ra tại Huế trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (What Really Happened At Hue), tác giả là James Willbanks đã cung cấp nhiều chi tiết cập nhật về trận đánh kéo dài hơn một tháng cũng như về tội ác của VC trong vụ tàn sát thường dân tại Huế. James Willbanks là cựu chiến binh VN, đã viết nhiều sách, trong đó có cuốn The Tet Offensive: A Concise History and Abandoning Vietnam, và hiện là giám đốc ngành Quân Sử tại Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu của Bô Binh Hoa Kỳ.
James Willbanks cho biết cuộc phản công giải cứu Huế kéo dài từ 31.1.1968 và chấm dứt vào ngày 2.3.1968. Tổn thất của Quân đội VNCH là 384 tử trận, 1,800 bị thương và 30 mất tích. Thuỷ quân Lục chiến Mỹ có 147 bị giết và 857 bị thương. Bô Binh Mỹ 74 người chết và 507 bị thương. Tổn thất về phía Cộng sản được báo cáo là 5,000 chết tại Huế và khoảng 3,000 nữa bị giết tại các vùng phụ cận. Các cuộc giao tranh trong hơn một tháng đã phá hủy khoảng 40% nhà cửa tại Huế khiến 116,000 lâm cảnh màn trời chiếu đất, 5,800 thường dân bị giết hay mất tích.
Số phận của những người mất tích dần dần được tính sổ khi khoảng 1,200 tử thi được tìm thấy dưới 18 hố chôn tập thể bị vùi lấp vội vã.  Trong 7 tháng đầu năm 1969, nhóm mồ tập thể thứ hai được phát hiện. Rồi vào tháng chin, nhờ sự chỉ dẫn của ba cán binh VC hồi chánh, 300 tử thi được khai quật ở Khe Đá Mài. Cuối cùng, vào tháng 11, hố chôn tập thể lớn thứ tư được tìm thấy gần xã Lương Viên, cách Huế khoảng 15 cây số về hướng đông. Cộng chung, gần 2,800 tử thi đã được phát hiện từ những hố chôn tập thể này.
James Willbanks viết rằng mới đầu tin về những vụ tàn sát tập thể không được báo chí Mỹ loan tải rộng rãi vì họ cho rằng không đáng tin, và chỉ chú tâm vào cuộc giao chiến đẫm máu và những tàn phá tại cố đô Huế. Cho đến khi những hố chôn tập thể được đào lên, các cuộc điều tra mới được bắt đầu để tìm hiểu sự thật.
Vào năm 1970, Douglas Pike, phân tích viên của Sở Thông Tin Hoa Kỳ, xuất bản tập tường trình The Viet Cong Strategy of Terror, trong đó viết rằng ít nhất phân nửa số xác chết được đào lên tại Huế đã cung cấp bằng cớ rõ ràng về “những vụ giết người tàn bạo: như tay bị trói quặt ra sau lưng, mồm bị nhét giẻ, thân thể vặn vẹo nhưng không mang thương tích (cho thấy đã bị chôn sống).” Pike kết luận rằng những vụ tàn sát này đã được thi hành bởi những cán binh VC tại địa phương và là kết quả của “một quyết định được lý luận và biện minh trong đầu óc Cộng sản”.
Willbanks nhắc đến cuốn Tet! của Ký giả Don Oberdorfer xuất bản năm 1971, trong đó thuật lại diễn tả sống động của các nhân chứng về những gì đã diễn ra trong thời gian VC kiểm soát thành phố Huế, gồm có những vụ hạ sát các người ngoại quốc tại Huế, như ba bác sĩ người Đức Raimund Discher, Alois Alteoster, và Horst-Gunther Krainick cùng bà vợ, tất cả đều dạy ở trường y khoa tại đây, và đã nghĩ rằng họ được an toàn vì là người ngoại quốc không liên hệ đến chính trị, nhưng đã bị VC bắt dẫn đi. Xác của họ được tìm thấy bị vùi trong một hố cạn nơi cánh đồng gần bên.  Cũng giống như vậy, hai giáo sĩ người Pháp, Cha Urbain và Guy, được trông thấy bị bắt dẫn đi. Sau đó xác Cha Urbain được tìm thấy với tay và chân bị trói, và bị chôn sống. Còn xác của Cha Guy, với một viên đạn bắn vào sau ót, được chôn cùng một hố với Urbain và 18 người khác. Các nhân chứng kể rằng đã trông thấy Linh mục Bửu Đông, người đã làm mục vụ cho cả hai bên và thậm chí có cả một tấm ảnh Hồ Chí Minh treo trong phòng, cũng đã bị dẫn đi. Xác của ông được tìm thấy 22 tháng sau trong một huyệt mộ đào nông cùng với xác của 300 nạn nhân khác.
Trong danh sách “những tên phản động” có cả một lao công làm việc tại phòng thông tin của chính quyền tên Phan Văn Tường. Lúc VC tới nhà tìm, ông Tường đã đi trốn cùng với gia đình và khi bắt được ông ta cùng với đưá con trai 5 tuổi, con gái 3 tuổi và 2 đứa cháu, VC lập tức bắn hạ tất cả và bỏ xác trên đường phố cho những thân nhân còn lại nhìn thấy.
Trong ngày thứ năm sau khi chiếm Huế, VC tới Nhà thờ Phú Cam, tập họp khoảng 400 đàn ông và thiếu niên. Trong số đó, vài người có tên trong danh sách kẻ thù, vài người ở tuổi đi lính và vài người chỉ có tội là trông có vẻ khá giả.  Họ bị dẫn đi về phiá nam. Xác của những người này sau đó được tìm thấy tại những hố chôn tập thể ở Khe Đá Mài.
Willbanks không quên trích dẫn tài liệu của phiá VC và sách báo của các tác giả Mỹ và Tây phương bào chữa cho tội ác của VC tại Huế, hạ giảm số nạn nhân, thậm chí đổ tội cho phi cơ Mỹ đã dội bom gây ra những cái chết của thường dân, và chính quyền Sài-Gòn đã bịa đặt vụ thảm sát với mục đích chiến tranh tâm lý, kể cả cuốn hồi ký Từ Thù Đến Bạn của cựu Đại tá VC Bùi Tín xuất bản năm 2002. Ông Bùi Tín nhìn nhận việc xử tử thường dân đã xảy ra tại Huế trong vụ Tết Mậu Thân. Tuy nhiên, ông ta nói rằng dưới sự căng thẳng của các cuộc oanh kích do phi cơ Mỹ thực hiện, kỷ luật bộ đội đã bị tan vỡ. Bùi Tín giải thích rằng hơn 10,000 tù binh đã bị bắt tại Huế, và những người quan trọng nhất đã được giải về miền Bắc. Khi Thuỷ quân Lục chiến Mỹ phản công tái chiếm Huế, bộ đội CSBV được lệnh rút lui về Bắc và đem theo tù nhân. Theo Bùi Tín, trong sự hoảng loạn của cuộc rút quân, vài cấp chỉ huy đại đội và tiểu đoàn đã bắn hạ tù binh “để bảo đảm an toàn cho cuộc rút quân”.
Còn các “sử gia” của Đảng CSVN thì viết rằng trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân tại Thừa Thiên – Huế, các cán bộ VC đã truy lùng và bắt giữ “những tên gian ác và các nhân viên quân sự và công chức ngụy quyền Việt Nam Cộng Hoà”, và rằng “nhiều ổ gian ác và phản động… đã bị giết”. Hàng trăm kẻ “có nợ máu đã bị xử tử”.
Sau một thời gian phủ nhận không có vụ thảm sát hàng ngàn thường dân tại Huế, Cộng sản Việt Nam đã nhận tội trước những bằng chứng hiển nhiên không thể chối cãi. Các “tội” mà VC quy cho những nạn nhân (“những tên gian ác”, “nhân viên quân sự”, “công chức ngụy quyền”, “phản động”, “có nợ máu”…) là những lý do chính trị mà theo định nghiã của Toà Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) là những yếu tố cấu thành tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại để truy tố những can phạm, từ kẻ lãnh đạo cao nhất đến những cấp thi hành và đồng lõa. Nhiều can phạm của những tội ác này trên thế giới đã bị bắt, bị truy tố và bị Toà Hình Sự Quốc Tế kết án.
Phải chăng vì vậy mà vài kẻ liên quan đến vụ thảm sát tại Huế đã tìm cách chối tội, như trường hợp của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Phạm Thị Xuân Quế mà Nhà văn Nguyễn Văn Lục đã nói tới trong một bài viết gần đây. Có nhiều bằng chứng cho thấy họ đã có mặt tại Huế trong thời gian VC chiếm giữ thành phố và đã đóng vai trò đồng loã (chỉ điểm, dẫn đường) trong việc lùng bắt và hạ sát các giáo sư tại Viện Đại Học Huế.
Sau khi đọc bài “Trường Hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường” của Ông Nguyễn Văn Lục, tôi đã hỏi ý kiến Giáo sư Nguyễn Thế Anh nhân dịp liên lạc với ông gần đây. Giáo sư Nguyễn Thế Anh là Viện trưởng Viện Đại Học Huế khi xảy ra biến cố Tết Mậu Thân, sau đó dạy sử tại Đại Học Sorbonne ở Paris, nay đã nghỉ hưu. Ông Nguyễn Thế Anh cho biết đã thoát chết vì ở bên hữu ngạn Sông Hương. Về sau, ông được nghe kể lại là có loa phóng thanh (ở bên tả ngạn Sông Hương do VC địa phương chiếm giữ) yêu cầu “ông Viện trưởng ra trình diện”, và những người đứng ra lãnh đạo cái ủy ban nhân dân là Lê Văn Hảo, giáo sư Đại Học Văn Khoa (dưới quyền Viện trưởng Nguyễn Thế Anh) và bọn sinh viên Đại Học Huế là anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…Một tháng sau, chính Gs. Nguyễn Thế Anh là người đã đi nhận diện tử thi của ba bác sĩ người Đức, cô vấn Trường Đại Học Y Khoa Huế.
Tiết lộ của Gs. Nguyễn Thế Anh phù hợp với phần tường thuật của James Willbanks về diễn tiến của mặt trận Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, theo đó Trung đoàn 4 chính quy CSBV đã chiếm mạn nam (hữu ngạn) Sông Hương của Thành phố Huế (trừ khu MACV, xem bản đồ đính kèm) ngay từ lúc hừng đông ngày 31.1.1968 (mùng hai Tết Mậu Thân).
Vụ thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế là tội ác chống nhân loại của Cộng sản Việt Nam mà cộng chung lên đến hơn một triệu nạn nhân vô tội kể từ khi cướp chính quyền tại Việt Nam. Hồ Chí Minh, người chịu trách nhiệm lớn nhất, cùng nhiều tay chân đã chết già, nhưng một số can phạm và đồng lõa khác còn sống, có thể bị điều tra, truy tố và xét xử trước Tòa Án Hình Sự Quốc Tế.
Đây là công việc mà các tổ chức chính trị và nhân quyền của người Việt ở hải ngoại có thể làm.

Sơn Tùng

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện giới thiệu ” Ngày Long Trời Đêm Lở Đất “



Bắc Kinh Hôn Mê

TÂM MINH

Cuốn tiểu thuyết “Bắc Kinh Hôn Mê” đang gây ra tiếng vang trong giới văn học thế giới. Từ thời kỳ cải cách ruộng đất đến cuộc cách mạng văn hóa của Mao Trạch Đông kéo đến thảm sát Thiên An Môn, mà chánh quyền Trung Quốc muốn người Trung Hoa quên đi đã được Ma Jian ghi lại qua những hồi tưởng của bệnh nhân đang nằm hôn mê trên giường bệnh.
Sanh năm 1953 ở Thanh Đảo, nhà văn Ma Jian qua Anh lấy vợ năm 1987 (bà vợ Flora Dew là dịch giả cuốn tiểu thuyết) chứng kiến thảm sát Thiên An Môn, được tự do du lịch ở Trung Quốc, nhưng như các nhà văn lưu vong khác, không được xuất bản sách hay tuyên bố bất cứ điều gì ở Trung Quốc.
Thuở nhỏ, thời Mao Trạch Đông, Ma Jian cùng với các bạn hay ra nghĩa trang đào các xác chết đã thối rữa, dùng que gậy nhặt các cơ quan nội tạng còn lại ra nghịch ngợm. Tác giả cũng đã chứng kiến cảnh các nạn nhân bị diễn hành trên đường phố trước khi bị xử tử và nhìn thấy những xác nạn nhân vứt xuống từ trên các cao ốc.
Thien An MonNăm 1989, Ma Jian đi Hồng Kông rồi về lại Bắc Kinh, tưởng là Trung Quốc sắp thay đổi thật sự. Muốn tham dự sự thay đổi, anh bỏ sáu tuần ở với các sinh viên biểu tình, sống trong các ký túc xá và lều bên ngoài công trường Thiên An Môn, chứng kiến cảnh các sinh viên tuyệt thực. Trước đó, năm 1987, cuốn tiểu thuyết “Lè lưỡi chế nhạo” của Ma Jian được nhà Văn hóa Nhân dân xuất bản, nổi tiếng ngay nhưng sách bị bộ tuyên truyền trung ương lên án suy đồi, phát huy tư tưởng đồi trị của văn hóa nhiễm độc Tây phương. 
Sau đó, Ma Jian bỏ việc làm ký giả nhiếp ảnh đi du lịch khắp Trung Quốc với cuốn kinh thư cổ điển “Sơn Hà Kinh” trong túi, ghi nhận những sự thật trong cuốn sách du ký thứ hai “Bụi Đỏ”.
Khi sự kiện Thiên An Môn xẩy ra, Ma Jian về lại quê ở với cậu em, cậu này một hôm đi vấp phải dây phơi quần áo, ngã đập đầu xuống đất và lâm vào tình trạng hôn mê. Cậu em này trở thành nhân vật chính Đại Vệ trong cuốn “Bắc Kinh Hôn Mê”.
Đại Vệ nằm hôn mê trên giường bệnh với viên đạn nằm trong đầu, một phần sọ nằm trong tủ lạnh bệnh viện, mù, câm, liệt, không thể nghe vì bị bắn trong cuộc biểu tình ở Thiên An Môn năm 1989. Cuộc thảm sát “không những tiêu diệt linh hồn mà còn tiêu diệt thân xác dân Trung Hoa”. Cuộc thảm sát được những hội kín như “hội các bà mẹ Thiên An Môn” làm sống lại vào những ngày kỷ niệm trong khi Công an di chuyển những nạn nhân sống sót từ Bắc Kinh về các khách sạn vùng ngoại ô, không cho họ tiếp xúc với ký giả ngoại quốc.
Đại Vệ sống trong tình trạng thực vật, lúc tỉnh lúc mơ, nhớ về những kỷ niệm cũ. Trong 60 trang, với âm hưởng Kafka, bằng giọng điệu khôi hài đau thương của văn Ma Jian, Đại Vệ nhớ lại những lần mổ xác trong giảng đường bộ môn cơ thể học đại học Nam Hoa. Các sinh viên mổ xác những tội nhân vừa mới bị chính quyền xử tử trong ngày Quốc khánh, để lấy các cơ quan nội ghép. Bộ Y Tế cho phép phẫu thuật nạn nhân ngay trên các xe cứu thương đậu ngoài pháp trường. Tỷ lệ nội ghép thành công thấp nhưng nhu cầu cơ quan nội tạng gia tăng, nhất là từ khi bệnh nhân từ nước ngoài đến, trả bằng ngoại tệ tốt cho kinh tế Trung Quốc.
Để đáp ứng lại nhu cầu gia tăng, chính quyền cho phép xử tử ngay trong bệnh viện thay vì ở pháp trường, nơi đó nội ghép được thực hiện ngay lập tức. Những phẫu thuật xảy ra hàng ngày ở bệnh viện Nam Hoa gần trường Quân Y cũng như Bệnh viên Y khoa Đại học Khoa học Quân sự.
Năm 1971, cô Lý Liên chỉ trích cách mạng văn hóa bị bốn cảnh sát đẩy vào tường, đưa lưng ra ngoài, cảnh sát vén váy lên đến lưng, cắt và móc thận không dùng thuốc mê, đem thận bán cho bệnh viên. Sinh viên y khoa bàn với nhau “lấy cơ quan từ người còn sống là vô nhân đạo” nhưng đảng CS xem người tù “không có quyền trên thân xác họ”.
Cậu Đại Vệ nằm một nơi, ký ức bay về thời kỳ cải tạo của cha cậu. Cha của Đại Vệ là người chơi violon nổi tiếng được đi ra nước ngoài nhưng ông đã về lại Trung Quốc. Trong 20 năm, ông tiếc hối về quyết định ấy và sống dưới thời Mao Trạch Đông, ông mất hẳn bản ngã và nhân cách. Năm 1976, sau trận động đất lớn, có dịp thăm bố, Đại Vệ được cha khuyên học tiếng Anh, và khoa học, phải tìm cách đi ngoại quốc để trở thành công dân thế giới. Người Hoa lúc ấy có thân nhân ở nước ngoài không còn bị xem ô nhục trái lại còn được xem là một vinh dự.
Năm 1980, ông bố trở về nhà, đầu bị cạo trọc sau khi học tập 22 năm, còn ông con Đại Vệ nằm trong năm thành phần danh sách đen bị cán bộ đá đổ đĩa thức ăn: “mày nghĩ mày là gì mà có quyền ăn thịt?” Trong trại lao động của ông có 3.000 tù nhân đói trong sáu tháng, chỉ có ông già Lý khỏe mạnh. Ông mỗi ngày đi nhặt phân tìm những phân khô có dính những mảnh khoai lang đem rửa sạch. Ông ăn khoảng một ký mỗi tháng, nhờ vậy ông có dáng điệu khỏe mạnh và đủ sức rửa mặt mỗi sáng.
9binhÔng nội của Đại Vệ là nạn nhân của chính sách cải cách ruộng đất, bị đấu tố chết (bị chính bà vợ tố). Mẹ của Đại Vệ học thuộc bài học thực tế, sau khi Mao Trạch Đông chết đến thời Đặng Tiểu Bình, bà đến trường đại học khuyên con phấn đấu vào Đảng để “nếu có gặp rắc rối ở Đại học mà con không phải là đảng viên thì con sẽ khổ, đừng nhìn cái vỏ cải tổ bề ngoài, ở dưới đáy mọi việc vẫn như vậy. Đảng Cộng sản là cái thây ma thối tha, chỉ khi nào Đảng biến mất xã hội Trung Quốc mới thay đổi”. Bà nhắc Đại Vệ về những ngày học tập của bố. Ông bị đối xử như con vật trong trại cải tạo. Tù nhân chỉ được ăn thịt một lần khi TT Nixon đến năm Trung Quốc vào năm 1972. Mười năm sau, điều kiện trại tù có thay đổi chút đỉnh, tù nhân được phát báo để chùi đít nhờ vậy họ đọc lén tin tức ở bên ngoài. Đói đã khiến bố Đại Vệ, một người trí thức trở nên xấu xa, ông giữ những thói như khi về nhà “ăn những vụn bánh, vụn đồ ăn trên bàn, giấu xương và vỏ trái cây vào trong hộp để dành khi đói.”
Điều kiện tù ở Quảng Tây dành cho người Hoa ở nước ngoài về khó khăn nhất là năm 1968, năm bạo động trong thời cách mạng văn hóa. Cách mạng ép tù nhân phải ăn thịt kẻ thù cách mạng. Ở trại tù Cam Túc có hơn 17.000 tù nhân chết vì đói. Tù nhân được lệnh ăn thịt tù mới chết để sống sót, ngay cả cán bộ quản giáo, ông Lưu, cũng bị móc gan ướp rượu. Con gái ông 16 tuổi, xinh đẹp, có tài múa, chơi vĩ cầm giỏi bị cán bộ cưỡng hiếp, thắt cổ giết chết, cắt vú, moi gan chiên ăn. Năm 1968 có 100.000 người bị giết ở Quảng Tây. Ở quận Vũ Xuân 3.523 người bị giết và 350 người bị ăn thịt.
Đại Vệ đọc nhật ký của bố mới hiểu hết sự việc xảy ra với ông, nhưng chính cậu cũng sống trong sự khủng bố thời Đặng Tiểu Bình. Cậu yêu sớm vì bị nhiễm tư tưởng phản động Tây phương. Thời gian Đại Vệ học ở Đại học Quảng Châu là thời “thế hệ sống rỗng tuếch, thèm khát học hỏi, thèm khát kiến thức, nhìn về văn hóa Tây phương sau khi Trung Quốc ra khỏi thời kỳ khủng hoảng cách mạng Văn hóa”. Sinh viên mê tiểu thuyết Hemingway và tranh Van Gogh. Sách triết của Freud bán chạy như tôm tươi vì sinh viên lầm tưởng là sách dâm ô. Nhờ mê sách Kafka, “The Castle” mà qua hồi ký của cha, cậu hiểu được mặt thật cuộc cách mạng văn hóa nhưng sinh viên đã hiểu sai về Đặng Tiểu Bình, tưởng ông là cứu tinh của họ. Chính Đặng ra lệnh tàn sát sinh viên ở Thiên An Môn.
Thien n Mon 6.4Những chương sách của Ma Jian cho thấy sinh viên chống đối can đảm, say mê dân chủ nhưng do dự. Một phần muốn lật đổ chính quyền, một phần muốn giữ Đảng để cải tổ . Họ dựng tượng Nữ thần Tự do, tuyệt thực đòi dân chủ, chống đối quân đội, đối đầu với xe tăng, yêu cầu phục chức Thủ tướng Triệu Tử Dương nhưng cuộc tranh đấu thất bại dẫn đến thảm sát.
Nhân quyền cũng không thay đổi sau năm 2000. Ở Tây Tạng, Ma Jian đi qua những vùng đất nghèo nàn, văn hóa Tây Tạng bị xóa không còn một Tây Tạng huyền bí! Thiệt hại do sự cai trị của nhà cầm quyền Trung Quốc. “Trái tim tâm linh của Tây Tạng đã bị móc ra khỏi lồng ngực.”
Ký ức Trung Quốc ở thời đại mới đã bị xóa dần bởi xã hội tiêu thụ, sản phẩm điện tử, đám cưới sang trọng, xe hơi ngoại quốc lộng lẫy. “Vấn đề trọng đại trở thành vấn đề nhỏ và vấn đề nhỏ từ từ trở nên không còn là vấn đề quan trọng”, đó là cái khả năng sinh tồn của người Hoa trên mấy ngàn năm.
Đại Vệ nằm trên giường bệnh được y tá đề nghị: “Chương trình săn sóc 20.000 nhân dân tệ mỗi tuần sẽ có tia hồng ngoại, thuốc nhập cảng từ Anh hay chương trình 10.000 tệ với thuốc Nhật và Tầu, còn chương trình 5.000 tệ chỉ có năm kỳ chữa bằng khí công, một lần châm cứu và một liều thuốc có tác dụng 24 giờ”.
Ma Jian mô tả xã hội thời hiện tại của Trung Quốc với giọng điệu chua chát. Bà mẹ của Đại Vệ phải bán một quả thận của con trai đang hôn mê để trang trải chi phí bệnh viện. Bà phải giả tạo hồ sơ bệnh lý vì nếu bác sĩ biết bệnh nhân là nạn nhân của thảm sát Thiên An Môn thì họ sẽ không nhận. Quả thận của Đại Vệ bán được 8.500 tệ trong khi thương gia cần thận trả bệnh viện 150.000 nhân dân tệ.
Mẹ của Đại Vệ sau một đời sống trong khủng bố tin vào Pháp Luân Công, nhờ Pháp Luân Công bà sống hạnh phúc và khỏe mạnh nhưng đệ tử của PLC bị đối xử tàn nhẫn hơn các tù nhân khác. Nội tạng của họ bị đánh cắp khi họ đang bi giam.
Đại Vệ cuối cùng yêu con chim đậu trên cửa sổ phòng cậu mỗi ngày, “có một loài chim chỉ có một cánh và một mắt. Nó cần một con chim khác để kết đôi nếu nó muốn bay”. Con chim se sẻ một ngày rơi xuống chỉ còn lồng ngực trên mặt đất. Đại Vệ rồi đây không còn phải dựa vào ký ức để qua được mỗi ngày nằm trên giường bệnh, anh không cần một ký ức chớp lên trước khi chết.
Một khởi đầu mới sẽ đến.

No comments:

Post a Comment